Bệnh quai bị là một bệnh truyền nhiễm, được phát hiện từ thế kỷ thứ V trước Công nguyên, nhưng mãi đến năm 1934 mới được Jonhson và Goodpasture phân lập được từ tuyến nước bọt, đến năm 1945 đã nuôi cấy được trên phôi gà và năm 1967 thì văccin phòng quai bị ra đời. Virus quai bị sống lâu khi ở ngoài cơ thể, ở nhiệt độ 15-200C virus sống được từ 50-90 ngày, ở 370C virus sống được 8 ngày và ở 600C virus sống được trong 20 phút. Bệnh quai bị thường bùng phát khi thời tiết bắt đầu chuyển lạnh, vì vậy, các bậc phụ huynh nên chủ động phòng tránh bệnh cho con trẻ.

Đề phòng trẻ bị mắc bệnh quai bị

Bệnh quai bị do virus có tên khoa học là Paramyxovirus gây nên, thường gặp ở trẻ em dưới 15 tuổi, nhất là trẻ từ 6 đến 10 tuổi. Bệnh thường lây lan chủ yếu qua đường hô hấp do nước bọt bị nhiễm trùng khi người bệnh nói chuyện, ho hoặc hắt hơi. Bệnh có thể lây  cho người tiếp xúc ở một tuần trước đó khi tuyến mang tai chưa sưng và kéo dài 2 tuần sau khi thấy sưng tuyến mang tai, thời gian lây mạnh nhất vào khoảng 2 ngày trước khi viêm tuyến mang tai.

Triệu chứng của bệnh quai bị: sau thời gian ủ bệnh từ 15 – 21 ngày, virus phát triển ở niêm mạc miệng sau đó xâm nhập vào máu gây viêm các cơ quan. Viêm tuyến mang tai là thể  điển hình nhất, trẻ sốt cao 38 – 390C, có biểu hiện nhức đầu, mệt mỏi, ăn ngủ kém; viêm và sưng tuyến mang tai, da căng phồng lên, không đỏ, đau, miệng khô và khó nuốt. Có khi bị viêm cả tuyến nước bọt dưới hàm, dưới lưỡi, lỗ ống Stenon ở niêm mạc má 2 bên sưng đỏ, có khi có giả mạc, thường 4 – 5 ngày sau hết thì sốt, sưng đau, giảm dần và khỏi.

Bệnh quai bị ở người lớn thường nặng và có nhiều biến chứng hơn ở trẻ em. Có thể có các biến chứng sau viêm tinh hoàn và mào tinh hoàn, biến chứng này thường xảy ra sau đợt viêm tuyến mang tai thì xuất hiện tinh hoàn sưng to, đau, mào tinh căng phù như một sợi dây thừng, tình trạng viêm và sốt có thể sẽ kéo dài. Có khoảng một phần ba trường hợp dẫn đến teo tinh hoàn và có thể dẫn đến tình trạng  vô sinh sau này. Biến chứng viêm tụy là một biểu hiện nặng của quai bị, bệnh nhân bị đau bụng nhiều, ói, có khi tụt huyết áp. Ngoài ra cũng có thể gặp một số biến chứng khác như tổn thương thần kinh, viêm cơ tim, viêm tuyến giáp, viêm tuyến lệ, viêm thần kinh thị giác, viêm phế quản, viêm phổi, rối loạn chức năng gan, xuất huyết do giảm tiểu cầu…

Điều trị bệnh quai bị: hiện nay bệnh quai bị chưa có thuốc đặc trị, chủ yếu là điều trị triệu chứng và nâng đỡ cơ  thể. Cần cách ly bệnh nhân từ khi phát hiện bệnh  ít nhất 10 đến 15 ngày, vệ sinh răng miệng sạch sẽ, ăn thức ăn lỏng dễ tiêu, giảm đau và hạ sốt cho bệnh nhân bằng Paracetamol. Trường hợp viêm tinh hoàn, cần cho mặc quần lót nâng tinh hoàn để giảm đau và  dùng corticoid liều cao ngay từ đầu, thường dùng Prednisolon 60 mg/ngày, sau đó giảm dần trong 7-10 ngày.

Ở trường học, khi phát hiện trẻ mắc bệnh quai bị thì cần cho nghỉ học ngay để tránh lây cho học sinh khác.

Nâng cao sức khỏe người bệnh bằng cách cho ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng và nghỉ ngơi hợp lý. Cần đến khám tại các cơ sở y tế ngay khi có biểu hiện bệnh.

Tiêm phòng văccin cho trẻ: Hiện nay đã có văccin tiêm phòng bệnh quai bị để tạo miễn dịch chủ động như dùng văccin Trimovax hay MMR, nhưng không nên tiêm văccin cho trẻ dưới 1 tuổi. Tuy nhiên, nếu trẻ sống trong môi trường dịch bệnh, có thể tiêm ngừa văccin cho trẻ từ khi 9 tháng tuổi, không tiêm cho phụ nữ có thai, người bị dị ứng với văccin, người đang dùng thuốc gây giảm miễn dịch như corticoid, thuốc điều trị ung thư, người đang điều trị với tia phóng xạ…

Văccin được tiêm  từ khi trẻ được 12 tháng tuổi; tiêm 2 lần, lần thứ nhất  lúc trẻ 1 tuổi và tiêm nhắc lại khi trẻ  được 4 đến 12 tuổi. Trường hợp cần thiết, tiêm phòng cho trẻ lúc  9 tháng tuổi thì phải tiêm 3 lần, lần thứ nhất lúc 9 tháng tuổi, lần thứ hai tiêm cách mũi thứ nhất là 6 tháng và  lần thứ ba tiêm khi trẻ  4-12 tuổi.

Theo vietdaikynguyen.com